Phương pháp giảng dạy: “Bàn tay nặn bột” – Kích thích sáng tạo, giúp trẻ say mê học tập.

TIN TỨC

17/01/2022

Trong những năm gần đây, ngành giáo dục nói chung và nhà trường nói riêng đã có rất nhiều nỗ lực trong việc cải cách chất lượng dạy và học ở các môn Khoa học tự nhiên. Theo đó, với triết lý giảng dạy: “Lấy học sinh là trung tâm”, Trường Quốc tế Nam Mỹ UTS đã áp dụng phương pháp giảng dạy: “Bàn tay nặn bột” ở cấp Trung học, nhằm giúp học sinh độc lập, phát huy sáng tạo, chủ động tiếp cận và giải quyết vấn đề.

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là cách thức giáo viên tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu để tìm ra cách giải quyết cho những kiến thức trong chương trình học thông qua việc đề xuất, thảo luận và thực hiện các thí nghiệm.

Các bước tổ chức dạy học theo phương pháp này bao gồm:

 

Giai đoạn 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

Giáo viên sẽ chủ động đưa ra tình huống xuất phát hoặc tình huống nêu vấn đề như một các dẫn nhập vào bài học. Tình huống đặt ra nên ngắn gọn, gần gũi và dễ hiểu với học sinh đồng thời lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề.

Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay mô đun kiến thức mà học sinh sẽ được học) cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và khơi gợi tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức.

Giáo viên phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề. Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện thành công.

 

Giai đoạn 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh

Trong bước này, giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước khi được học kiến thức mới. Để làm bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học có liên quan đến kiến thức mới của bài học. Khi yêu cầu học sinh trình bày quan niệm ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của học sinh như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ.

Từ những quan niệm ban đầu của học sinh, giáo viên cần khéo léo giúp học sinh đề xuất các câu hỏi, bên cạnh đó cũng cần chú ý tập trung vào những quan niệm liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học (hay môđun kiến thức), chọn lựa một số quan niệm ban đầu khác biệt trong lớp để giúp học sinh so sánh, từ đó giúp học sinh đặt câu hỏi liên quan đến nội dung bài học.

 

Giai đoạn 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm

Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghị các em đề xuất các giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu để kiểm chứng các giả thuyết nhằm tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu ở đây là các phương án để tìm ra câu trả lời như quan sát, thực hành thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu…

Tùy theo kiến thức hay vấn đề đặt ra mà học sinh có thể đề xuất các phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu khác nhau. Trong quá trình đề xuất phương án thực nghiệm, nếu ý kiến của học sinh nêu lên có ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩn hoặc diễn đạt chưa rõ thì giáo viên nên gợi ý và từng bước giúp học sinh hoàn thiện diễn đạt. Phương pháp này khuyến khích học sinh tự đánh giá ý kiến của nhau hơn là của giáo viên nhận xét.

 

 

Giai đoạn 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu:

Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu mà học sinh nêu ra, giáo viên khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay các thiết bị dạy học thích hợp để học sinh tiến hành nghiên cứu. Nếu phải làm thí nghiệm thì ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật. Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể làm trên mô hình, hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ.

Đối với phương pháp quan sát, giáo viên cho học sinh quan sát vật thật trước, sau đó mới cho học sinh quan sát tranh vẽ khoa học hay mô hình để phóng to những đặc điểm không thể quan sát rõ trên vật thật. Khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến hành.

Các thí nghiệm được tiến hành lần lượt tương ứng với từng mô đun kiến thức. Mỗi thí nghiệm được thực hiện xong, giáo viên nên dừng lại để học sinh rút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng). Giáo viên lưu ý học sinh ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ sõ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thực hành.

Đối với các thí nghiệm phức tạp và nếu có điều kiện, giáo viên nên thiết kế một mẫu sẵn để học sinh điền kết quả thí nghiệm, vật liệu thí nghiệm. Khi thực hiện thực hành độc lập theo cá nhân hay nhóm giúp học sinh tránh nhìn và làm theo cách của nhau, thụ động trong suy nghĩ và cũng tiện lợi cho giáo viên phát hiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắc trong thực hiện thí nghiệm nghiên cứu, đặc biệt là các thí nghiệm được thực hiện với các dụng cụ, vật liệu thí nghiệm giống nhau nhưng nếu bố trí thí nghiệm không hợp lý sẽ không thu được kết quả thí nghiệm như ý.

Giai đoạn 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức

Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học. Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học. Giáo viên khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu (quan niệm ban đầu) trước khi học kiến thức.

Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu, chính học sinh tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt. Chính học sinh tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động. Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức.

Việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Khoa học tự nhiên là một phương pháp điển hình giúp học sinh đạt được những kỹ năng như quan sát, thực nghiệm, giải thích hiện tượng, vận dụng kiến thức vào thực tế. Trong quá trình thực nghiệm, HS không chỉ được hình thành kĩ năng quan sát mà còn phát triển khả năng tiến hành thí nghiệm. Từ đó có rút ra kinh nghiệm cần thiết để không mắc phải sai sót trong các hoạt động sau đó. Phương pháp này còn giúp HS nâng cao khả năng diễn đạt, phát triển ngôn ngữ khoa học, giúp các em có cơ hội hình thành và phát triển kĩ năng làm việc nhóm khiến cho tập thể lớp thêm đoàn kết, gắn bó. Từ đó học sinh hứng thú, say mê hơn với môn học mang lại hiệu quả học tập cao hơn.

UTS tin rằng, việc linh hoạt trong áp dụng các phương pháp học tập sẽ giúp cho các em có cơ hội và môi trường tốt nhất để thể hiện và sáng tạo ra “thế giới riêng” của mình, trưởng thành và phát huy tối đa tiềm năng để đạt được thành công và hạnh phúc cho bản thân.

Tin tức và sự kiện nổi bật